Không chỉ đạo diễn, nhà quay phim, những quyết định của nhà dựng phim cũng đóng vai trò rất lớn trong việc kể chuyện, tạo ra cảm xúc và thành công của bộ phim. Nhà dựng phim đoạt giải Oscar, Walter Murch, đã đưa ra một số công cụ hữu ích trong cuốn sách “In the Blink of an Eye” để giúp bạn có thể thực hiện công việc dựng phim thật hiệu quả. Bạn có thể tham khảo 6 cách dựng hiệu quả của ông trong từng ảnh.

1. Cắt vì cảm xúc (51%)
Cảm xúc chiếm trên 50% lý do tại sao cú cắt hay. Bạn cần tự hỏi: Cú cắt này sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc của khán giả vào khoảnh khắc này như thế nào?
Bạn không cần phải làm cho khán giả cảm thấy buồn hoặc vui trong một cú cắt, quy luật này liên quan đến bạn sẽ khiến bộ phim phim tạo ra cảm xúc như thế nào. Đây chính là tông của bộ phim. Những cú cắt của bạn có tạo ra đúng tông cảm xúc tổng thể mà bạn muốn theo đuổi hay không? Cú chuyển cảnh hoặc cắt này có đúng với trải nghiệm cảm xúc chung của câu chuyện hay không? Trải nghiệm cảm xúc chung của câu chuyện là không khí hoặc tông mà bạn đã thiết lập. Nếu bạn muốn giữ một tông xuyên suốt câu chuyện, những cú cắt và chuyển cảnh cần phù hợp với tông này.
VD: Trong phim “The Godfather, cảnh Michael gặp Sollozo trong nhà hàng không chỉ dùng hình ảnh mà cả âm thanh để dựng phim. Sự cộng tác giữa Walter Murch và Francis Coppola đã tạo nên một bước ngoặt trong điện ảnh.
Chuẩn bị trước shot list và storyboard sẽ giúp bạn khi bắt đầu dựng phim.
2. Thúc đẩy câu chuyện bằng các cú cắt (23%)
Quy luật thứ hai của Walter Murch là liệu cú cắt thúc đẩy câu chuyện không? Liệu cú cắt, chuyển cảnh, hoặc biên tập có khiến câu chuyện chuyển động một cách có ý nghĩa không? Bất kể quyết định nào bạn đưa ra khi dựng phim, bạn có nghĩ đến câu chuyện không?
Câu chuyện là nội dung của bộ phim. Hãy cố gắng không nhầm lẫn giữa cốt truyện và câu chuyện. VD: Trong phim Eternal Sunshine of the Spotless Mind, cốt truyện là về Joel quyết định xóa ký ức vì người yêu cũ đã xóa ký ức về anh ta trước. Nhưng còn câu chuyện thực ra là về điều gì? Nếu bạn xóa đi nỗi đau, bạn xóa đi cả tình yêu. Mọi quyết định trong phim đẩy khán giả tới điểm mấu chốt này. Quyết định dựng phim phi tuyến tính đã thực sự phục vụ câu chuyện này. Các cảnh trong phim không còn đi theo thứ tự nữa và thêm vào sự hoang mang của nhân vật chính khi bị mất trí nhớ.
Một vấn đề phổ biến mà các nhà làm phim gặp phải là việc phải vứt bỏ các yếu tổ không hiệu quả, thậm chí là những đứa con tinh thần sáng tạo của nhà làm phim. Trong ví dụ Eternal Sunshine of the Spotless Mind, các cảnh về người yêu cũ khác của Joel là Naomi đã phải bỏ ra để đẩy mạnh chủ đề của bộ phim. Bạn có thể giữ những ý tưởng sáng tạo bị loại bỏ để sử dụng cho các dự án tiếp theo của bạn.
3. Giữ nhịp điệu (10%)
Các cú cắt chú ý đến tông cảm xúc và câu chuyện sẽ được kết nối bằng một tốc độ (pacing) hoặc nhịp điệu (rhythm). Hãy tự hỏi liệu cú cắt này có tạo nhịp điệu hợp lý, hỗ trợ cảm xúc trong câu chuyện hay không? Là một nhà dựng phim, nếu ý tưởng của bạn là tạo ra sự hoang mang và mất phương hướng, bởi vì nhân vật bị hoang mang hoặc do cảnh phim đòi hỏi điều này, bạn có thể dựng phim bằng một tốc độ nhanh. Nhưng nếu cảm xúc bạn kể trong câu chuyện là thanh bình hơn, nhịp điệu cần thể hiện được điều này.
Murch muốn bạn nghĩ về dựng phim như “âm nhạc thị giác”. Đối với ông, nhịp điệu là “âm nhạc của cú cắt”. Các cú cắt có cùng dòng chảy để nâng tầm tông cảm xúc hay không? Cú cắt có xuất hiện ở đúng chỗ về mặt nhịp điệu hay không?
VD: Trong cảnh kết phim Bonnie and Clyde, đạo diễn Arthur Penn và nhà dựng phim Dede Allen sử dụng nhịp điệu để truyền tải cái chết không tránh được dù đột ngột và bất ngờ của hai kẻ tội phạm.
https://www.youtube.com/watch?v=bQtkbQkURCI&t=58s
4. Hướng mắt (7%)
Bất kể bạn là nhà dựng phim, đạo diễn hình ảnh hay đạo diễn, nắm bắt và giữ sự chú ý của khán giả trong khuôn hình luôn luôn là một nhiệm vụ cần được ưu tiên. Kiểm soát những gì khán giả nhìn thấy, khi nào họ nhìn thấy điều này, đòi hỏi một mối quan hệ làm việc chặt chẽ giữa đạo diễn và nhà dựng phim. Dự đoán khán giả sẽ nhìn vào đâu tiếp theo là công việc cơ bản của môn nghệ thuật này.
Hướng mắt (eye trace) là một kỹ thuật làm phim dẫn dắt con mắt của người xem đến một khu vực cụ thể trong khuôn hình thông qua blocking, di chuyển máy quay, màu sắc, ánh sáng và dựng phim. Thuật ngữ hướng mắt là một công cụ mà nhà làm phim sử dụng để kiểm soát những gì khán giả nhìn thấy. Hướng mắt thường được sử dụng để định hướng mắt người xem xuyên suốt các đoạn được dựng liên tiếp nhau.
Hãy tự hỏi, khán giả sẽ nhìn vào đâu trước khi tôi thực hiện cú cắt này? Và cú cắt này sẽ gây ảnh hưởng đến sự tập trung của khán giả như thế nào?
Biết trước điều này cho phép nhà làm phim thực hiện được một số “chiêu trò”, ví dụ như giấu thông tin. Nếu con mắt khán giả nhìn vào trung tâm khuôn hình từ cú máy trước đó, và bạn giới thiệu một cú máy mới với thông tin quan trọng ở góc phía sau khuôn hình, bạn đã giấu điều gì đó khỏi khán giả thành công. Bộ phim Fight Club sử dụng kỹ thuật hướng mắt nhưng có một chút biến tấu. Tyler biến mất khỏi màn hình nhanh hơn khi anh ta đến, khiến khán giả không biết rõ họ đã nhìn thấy điều gì. Đây là điềm báo về Tyler từ đầu phim.
Nếu việc giấu yếu tố trong phim là không cần thiết, hướng mắt giúp khán giả theo dõi các sự kiện đang thay đổi trong câu chuyện.
Khi hành động tăng tốc cùng với nhiều thành phần chuyển động, hướng mắt thông qua dựng phim giúp khán giả theo dõi được câu chuyện. VD: Trong phim Mad Max: Fury Road, trường đoạn trong phim đặt các yếu tố quan trọng ở trung tâm khuôn hình.
Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng hướng mắt thông qua màu sắc và sắp đặt. Ví dụ như trong bộ phim Schindler’s List, cô bé mặc trang phục màu đỏ nổi bật giữa khung cảnh đen trắng.
Nhấn mạnh những gì cần thiết trong một cảnh phim để dẫn dắt con mắt khán giả đúng như ý bạn là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
5. Tái tạo hiện thực trên màn ảnh (5%)
Nguyên tắc này là sự chuyển đổi thế giới ba chiều thành thế giới hai chiều chúng ta thấy trên màn ảnh. Chúng ta cần chứng minh rằng, trong không gian hai chiều này (màn hình), người A đang thật sự nhìn vào người B.
Để thực hiện được việc này, bạn cần lưu ý đến quy luật trục 180 độ trong làm phim.
6. Không gian vật lý trong một cảnh (4%)
Nguyên tắc này đảm bảo là khán giả hiểu được tất cả mọi việc diễn ra trong một cảnh phim. Hãy cho khán giả biết các vật thể ở đâu trong mối quan hệ tương quan với nhau.
VD: Khi tôi bước ra khỏi xe ô tô, tôi bước xuống mặt đất hay xuất hiện luôn trong nhà?
Cú cắt có thiết lập được đủ không gian vật lý để khán giả hiểu cách tôi đến địa điểm hiện giờ của tôi không?
Trong những ngày đầu của điện ảnh, các nhà làm phim từng bị ám ảnh về vấn đề này và sử dụng ít cú cắt hơn ngày nay, khi diễn viên di chuyển từ một địa điểm sang một địa điểm khác. Các nhà làm phim từng lo lắng rằng khán giả sẽ không thể theo dõi các sự kiện trong câu chuyện nếu như không đúng với thực tế. Ngày nay, nguyên tắc này thường xuyên bị phá vỡ. Đôi khi, phá vỡ nguyên tắc này hỗ trợ tông của bộ phim hiệu quả hơn là bám theo nguyên tắc. Ví dụ về trường hợp các nhân vật di chuyển trong phim Inception.
Nguồn: Studiobinder